Plan du collège




1. Cổng ra vào


Sau này, chắc vì lý do an ninh của cưu xá Mỹ, cổng ra vào cho học sinh được đặt ở đường bên hông (24). Trước đây, phía góc đường (bên Võ Tánh) là cho bán hàng rong và bãi đậu xe xích lô. Các ông lái xe, trong lúc đợi đón học sinh, chơi « pétanque » bằng đá, có cáp độ: mấy ông mài đá trên đường để làm « boule » cho riêng mình. Vui đáo để. Đứng xem, còn học được thêm nhiều tiếng «hè phố »…


Bên kia đường là Ty Ngân Khố có cô con gái ông Trưởng Ty học trường Nữ đẹp và sang quá chừng; tôi gặp vài lần: có du côn cũng trở thành linh mục!


Phía xuống biển là chổ xe hơi, thường do các « mệnh phụ » lái như Mercedes đen của anh em Trương hán Lương, bà BS Quýnh … Mặc cảm làm tôi còn nhớ đến bây giờ!


Sau khi qua cổng là những hàng cây, hoa cỏ được chăm sóc cẩn thận, rất đẹp và thơ mộng. Thầy An thường đậu xe mobylette xám gần phòng hiệu trưởng, tôi định bỏ muối (sel) vào bình xăng mấy lần (có nhiều đồng lõa nhưng tôi tạm dấu tên) mà không được: cũng may, sau thầy trò hiểu và thông cảm nhau; ông đã khuyên và an ủi tôi lúc tôi hư hỏng nên là mot trong những giáo sư ở Collège tôi còn lưu luyến (người thứ 2 có lẽ là bà già đầu bạc (quên tên) dạy Anglais lớp 6è, 5ème).


Tiếp tục đi thẳng vào, leo vài bực tam cấp: trên hành lang, phía tay phải có bảng yết thị những tin tức sinh hoạt của trường (lần cuối cùng tôi được hân hạnh có tên là khi được mời đi trường khác).


2. Nhà ông Cai trường


Ông thường tháp tùng hiệu trưởng, tổng giám thị đến các lớp mỗi đầu tháng để phát bảng danh dự (màu đỏ), bảng khuyến khích (encouragements, màu vàng?), bảng khen (félicitations, màu trắng?). Mấy anh chót lớp thì được ông Sandjevi hỏi thăm riêng.


3. WC


Hành lang chạy thẳng đến phòng hiệu trưởng (4). Cũng là nơi hút thuốc lá lén. Tuong nga


4. Phòng hiệu trưởng (ông Faure, sau là Hartmann)


Phía sau hình như là văn phòng thư ký hiệu trưởng (ông Vinh? người VN, thu học phí?)


5. Thư viện, phòng các thầy cô đợi vào lớp.


Nơi đây nghe đâu cũng có vài mối tình lẽ giữa các ông tây bà đầm. Hình Kỳ ngồi gãi đầu tra sách chắc là ở đây.


6. Lớp 11ème


7. Lớp 10ème


Dọc hành lang dẩn vào préau, cũng như hành lang đưa đến văn phòng ông Sandjevi. có trồng cây xoài: những trái xoài xanh trông ngứa mắt. Đã có lần tôi leo lên rung cây cho rụng trái chín để khỏi có dấu lấy trộm bị cấm túc mấy giờ, không oan uổng.


8. Sân chơi trải nhựa đường (goudron) của lớp 10ème, 11ème.


Trồng nhiều cây bàng già, đầy bóng mát. Có những lần sau khi tan học, trường vắng vẻ, buồn không biết làm gì, tôi đi lượm những trái bàng khô, đập ra lấy nhân, (Sandjevi ông em thay ngoai dung cac qua…). ngang di gap nao dua cho phuc (vô cua phạt bị cả va lớp, vao khi trước sân duoi hang xep con toi mat?. nho choi tieng vang tai Trong bùi ngon


9. Bãi đậu xe 2 bánh.


Sân đất nền cứng, có sỏi nhỏ.


10. Sân bóng chuyền


Thịnh hành khoảng từ 65/66. Cũng là chổ dạo chơi của các anh chị lớp lớn. Thời ông Faure, thỉnh thoảng có chiếu phim buoi tối mát trời: êm đềm và thanh bình biết bao!


Bên kia tường khuôn viên là nhà dòng. Có mấy ông cố đaọ người pháp. Một lần Noël, leo lên tường chổ để xe đạp, tôi thấy một ông cố tây ngồi ăn một mình một con gà: Chúa ôi!


11. Préau


Nơi xếp hàng và chơi của các lớp trên. Cũng là nơi chích ngừa dịch tả, dịch hạch (ở vai): đau nhớ đơì. Lúc xếp hàng là lúc nhộn nhất; những anh chị « trưởng thành » sớm thường nhìn lén nhau (muốn tôi viết tên ra không?).


12. Lớp 9ème


Dù hay đùa nghịch, tôi sợ đi vòng hành lang ở cuối dãy: vắng vẽ, yên lặng ma cắc kè ở trên mái nhà lâu lâu lại kêu!


13. Lớp 8ème


Khoảng 60-61, vài người sau học lớp 8ème A: Ng. đình Dũng, Phạm thị Tường Vi, Hang thị Xuân Thu, Anna (cô bé tóc vàng ngồi hàng đầu, chouchou của ông Seyes (?) nay nơi đâu?), René (nhà sau Grand Hotel)… Ở lớp này thường nghe tiếng la hét của ông thầy maths mập, lùn dãy bên kia (lớp 6è, 5è) đến …không muốn lên lớp luôn.


14. Lớp 7ème


Lớp 7ème B của ông Fredon đẹp trai, chải chuốt với bộ râu quai nón: Vương Sỷ Bảo (mat), Lê văn Hai, Vủ đổ Vinh (2 chàng thi rớt 6ème)… Có lần lén vô lớp trước, lật sau bảng xem các định nghĩa của Etude de Texte mà ông đã ghi, tôi dơ tay trả lời để lấy điểm làm ông thấy ngạc nhiên đến.. nghi hoạc. Ông Fredon có vợ dạy 10ème, 11ème, « sexy » ra phết .


15. Văn phòng


Đây là văn phòng mà tôi nhớ nhất, vì đến đó tôi hiền như bụt, mặt lúc nào cũng cúi gằm (từ ngoài hành lang!) như ăn năn sám hối tất cả tội lổi ở trên đời. Mà không phải riêng tôi, anh chị em ai cũng…một lòng như tôi hế. Ông Sandjevi là người tôi kinh sợ, rồi kính trọng, kính yêu, và kính phục.


Gốc Ấn Độ, bụng phệ, da đen, mặt trắng dã, ông đập bàn la hét nhiều lúc làm vãi quần… xin chừa. Vậy mà rồi lại cứ phải gặp ông, lần sau và nhiều lần sau nữa, rõ là khốn khổ. 


Phía sau là văn phòng của một ông mộ bà người VN, économe và bán học cụ: bìa vở (mổi lớp một màu: 8ème vàng? 7ème đỏ?), ngòi bút (lá tre hay bầu), giấy thấm… 


Sang chi lạ.


16. Lớp 7ème spécial.


Mấy lớp (16-18) hình như được xây sau này, ở thấp hơn các lớp khác và được nối liền bằng một cầu thang đi lên 5.6 bậc. Tôi không rỏ là có 3 hay 4 lớp.


17. Lớp 6ème spécial


Của Lâm Hải, Lý tăng Vỏ, Hạnh « bà già », Hoa, Trần Nguyen thị Hoài Thu (tôi vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn, mà mùa thu dài lắm ở xung quanh…).


18. Lớp 6ème moderne


Tôi có học ở đây, và nhớ có lần được « mời » ra cửa …ngắm cây chơi vì ngồi hàng đầu mà lại có tật rung đùi làm ông thầy ngứa mắt (ông cấm rung nhưng chứng nào vẫn tật ấy). Ông Sandjevi đi dạo gặp tôi hỏi ngớ ngẩn « qu’est ce que vous faites ici? »  khiến tôi cứ ngẩn ngơ « mais…mais… »


Cũng ở đây, Đầu Bò đọc récitation không thuộc, gãi đầu lia liạ làm cả lớp cười tơi bời.


19. Lớp 6ème moderne.


20. Lớp 5ème


Hết phân biệt spécial/moderne.


21. Lớp 4ème


Xém đánh ông dạy Anglais (Gras?) có bộ râu đểu « clark gable », bị gọi lên ông Sandjevi nhưng hình như ông cũng «đồng ý » là tên thầy hơi lố lăng, khiếm nhã.


22. Lớp 3ème


Và cũng là lớp cấm túc (consigne) chiều thứ 7 (?). Tôi học lớp cuối tuần này hơi nhiều dưới sự canh chừng của một bà dạy primaire (Phạm?). Hết chọc phá bà, đến ngủ gà ngù gật, nghe tiếng nhạc từ rạp Tân Quang vọng về mà não nề ai oán.


23. Sân sỏi


Chưa thấy ai nhảy xuống chơi.


24. Cửa ra vào trường sau này, khoảng 65-66.


25. Nhà ông hiệu trưởng.


Tôi được cha mẹ dắt đến một lần khi vào học Collège (thời ông Faure): đúng là nhà tây như mình thấy trong Jours de France, Paris Match…


Ở Pháp rồi mới hiểu tại sao ông Jenne lấy vợ VN và không muốn về xứ luôn. Được « overseas », sướng quá trời. Ngoài gia đình ông Fredon ở góc đối diện trường Vỏ Tánh, đa số giáo viên ở villa giữa bộ chỉ huy lính mũ xanh và không quân (quên tên đường).


Ngoài ra, còn có một bà dạy primaire (đầm lai « vamp » lắm) ở villa đường Duy Tân, phía gần sân bay: sở dỉ biết được vì tôi theo dõi ông Gras lúc đến dê bà này, để phá xe traction đen của ông (con nit thù vặt ấy mà).


26. Cây cối rậm rạp


Hình như sau này có xây thêm lớp học. Phía bên kia đường là trường Ba Ninh, có đụng độ tay chân và bóng chuyền vài lần.


Collège là nơi tôi đã đễ lại nhiều dấu chân, những lúc « gợi giấc mơ xưa », tôi đi dọc các hành lang và thấy lại nhiều kỷ niệm. Ở mổ góc, mổi lớp… Bức sơ đồ vẽ theo trí nhớ sau 35 năm dĩ nhiên nhiều thiếu sót mong chờ cac bạn bổ túc, nhưng tôi cũng hi vọng, trong khi chờ đợi, các bạn sẽ tìm lại được trên đó những gì thân thương của mình.


Nguyễn Đăng Syển




Wow!


Syển có một trí nhớ phi thường. Trí nhớ này là phải bầu làm “lãnh tụ" của cựu học sinh Collège nhé.


5ème là B. học ông Grouska, ông này dữ nhất thế giới. Ông ta nhéo tai một học sinh tên Đức (không phải Đinh Gia Đức) và kéo nhỏ này bổng lên trời, đứt mất một góc tai. 8ème B. học ông Tollier (nước da ngăm ngăm đen).


Bà già tóc bạc dạy Anglais là Mademoiselle DuBlanc.


Thời gian mới về NT học, chuyển từ Petit Lycée Đàlạt, trường Collège có bà Cadre, (có hai cô cháu tên gì đó quên mất tên rồi) và có bà Bảy thư ký or bán school supplies, bán giá cắt cổ


Còn nhớ có Danielle Felix et Mireille Felix (Hai chị em) và có cháu là Amelie Santenac (chết ở Độc Lập, khi máy bay rớt), còn Syển mention René phải là René Santenac, anh của Amélie không?


Chắc từ từ sẽ nhớ ra nhiều chuyện để share với các bạn nữa.


Have a nice long week end!


Ngoc Bich, Feb 17 2001




Cả hai Syển và Bích đều tài tình, cả hai đều có trí nhớ phi thường, thôi tôi bầu làm hội trương và phó hội trưởng CF đây.


Tôi chỉ nhớ rất rỏ về ông Tollier, là vì bà Tollier đẹp lắm.


-Ky70, Feb 17 2001




Rất thích thú được quay trở về trường củ cùng anh Syển và chị Ngọc Bích.


Phục nhất là trí nhớ siêu việt của anh chị, nhất là tên Monsieur Sandjevi không sai (ông này nói tiếng Việt như máy).


Không thấy Syển nhắc đến các lớp từ 3ème cho đến terminal, ở phía dãy trước trên phòng giáo sư đổi lớp (7?) rồi lên đến phòng thư viện tối om mà có quả địa cầu to để ở góc. Hay sau này các lớp đã đỗi chổ từ thời 65-66, khi tất cả các lớp élémentaire đều giao lại cho trường Hàn Thuyên và chỉ để lại từ 7ème spécial do bà Fredon, (đẹp và "Sexy" lắm nhưng cũng chuyên xé quyển cahier de maison vì chử viết xấu quá làm mỗi ngày là phải chạy đi mượn tập của bạn thức đêm chép lại muốn chết). Lớp này do Cao thị Thu An là majeure.


Chị Bích có nhắc đến ba Cadre, có phải là Mme Cadre có con là anh Sơn "Donald" promo anh Vũ Đổ Vinh? Bên cạnh phòng ông Surveillant General còn có thầy Tụy, chắc vì hay đi dạy trể nên bị đổi vào làm ở đây, và chị Bảy.


Ngày xưa đi học dã nghe tin đồn có "các anh nhớn" định bỏ muối vào bình xăng thầy Lê Khắc An mà sứ mạng không thành, thì ra là anh Syển. 35 năm sau... vụ án mới được tìm ra. Thầy An hình như bây giờ ở Los Angeles, hy vọng Phi Thao còn giữ được liên lạc với thầy. Còn bà Nguyễn Tư Bang thì ở San Diego, muốn tìm chắc không khó.


Mãi mê tìm về mái trường xưa mà quên cả thì giờ, hẹn các bạn và các anh chị lần sau và trước khi chia tay, cùng hát với nhau một bài nhé.... hai...ba: "il était un petit navire, il était un petit navire qui n'avait ja..jamais navigué..


Thân,


Hoang, Feb 18 2001




Ba Cadre (hay Cát) có con tên là Sơn. Sơn Co có cháu tên là Vân Trang (học cùng với tôi).


Ông Surge tên là Sandjivi. Tôi chuyên môn imiter chử ký của ông đem về cho Papa mỗ tháng.


Lúc tôi học Terminale ở Đàlat, ông cũng lên Đalat làm việc cho Lycée Yersin.


Dung, Feb 18 2001




Tôi chỉ học ở Collège đến khoảng cuối năm 66, chưa hết lớp 3è, thì được trường khác mời đến thụ giáo.


Chị Minh Thu học Collège đến Terminale có thể bổ túc sự biến đổi của trường sau này.


Dũng nói đúng: tôi không nhớ rõ tên chính xác của ông Surveillant Général; lúc ở SG, tôi có nghe Trương Hồng Sơn (em Lĩnh) nói ông lên Yersin và năm Mậu Thân 68 hơi bị « phiền phức » với chính quyền về vấn đề chính trị (?); cô con gái đầu của ông học sau tôi vài lớp.


Tôi chỉ còn nhớ Vân Trang, cháu bà Cát làm việc ở phía sau văn phòng hiệu trưởng (số 4). Ông Vinh, người ốm gầy, lưng hơi còng, cận thị, làm ở thư viện (số 5). Bà Bảy bán dụng cụ. là con gái của ông cai trường (tên Nguyễn Nghị), làm việc chung với ông Phụng (có con trai học Collège, promo chị Minh Thu?) ở văn phòng phía sau ông Surveillant (số 15).


Phục Ngọc Bích đã nhớ tên cô Dublanc (hay Du Blanc?), giờ chắc đã qua đời vì thời còn đi học cô đã già và nhăn nheo lắm rồi.


Tôi không nhớ họ của René nhưng nghe âm (Santenac) thi nghĩ là Bich đúng; villa của René ở góc đường (từ Nhà Thờ Núi) ra biển và sau Grand Hotel. Cảnh Vinh cõng, tôi đã quên, nay Bích nhắc lại làm tôi nhớ hình như ở 3è (66): lúc đó tôi lộng quá nên quên nhiều « thành tích »: ráng dạo thêm ký ức cho tôi vui sướng, và trẻ lại nhé.


Cám ơn Bích nhiều nhiều.


Bạn nào có liên lạc với bà Bang thì giới thiệu eCircles, hỏi thăm các thầy cô khác, và mơì bà viết « hồi ký » những năm dạy học ở Collège (bà này trước « ghét » tôi lắm vì bị tôi hay chọc phá: cô ơi, mời cô dzô, em giờ hết « quậy » nổi rồi. Đừng lo). Phần thầy An, tôi sẽ thư riêng.


Cám ơn lời khen của các bạn. Tôi chỉ mong mỏi trong lúc mới lập website này, mỗi chúng ta giúp cho nhau nhớ lại hình ảnh và hâm nóng kỷ niệm thưở thiếu thơì, rồi từ đó nối rộng vòng thân hữu: đừng e ngại Ngồi Lại Gần Nhau, đừng mặc cảm xấu tốt hay dè dặt. Để website này sẽ là một vùng đất đem lại êm dịu, thanh thản cho mổi chúng ta sau công việc hàng ngày.


SYEN, Feb 19 2001


© cfnt, Collège Français de Nha Trang